Đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh)
Đền Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh là một di tích lịch sử đã được Nhà nước Việt Nam công nhận. Đền bà Chúa Kho Bắc Ninh là một đền thờ Mẫu nằm tại vùng quê Kinh Bắc nổi tiếng văn hiến, lâu đời. Đền tọa lạc tại núi Kho, đường Bà Chúa Kho, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Đền được xây dựng vào thời nhà Lý với mong muốn tưởng nhớ tấm lòng bao dung, cũng như những cống hiến to lớn của Bà cho dân tộc. Truyền thuyết về đền Bà Chúa Kho Bắc Ninh luôn được người dân khắp nơi lưu giữ và truyền lại cho con cháu thế hệ đời sau như một di sản văn hóa quan trọng, quý giá.
Văn khấn Đền Bà Chúa Kho
Đền Bà Chúa Kho là nơi thờ Bà Chúa Kho. Theo nghi thức thờ Mẫu Tứ Phủ, khấn ban Công Đồng trước rồi mới vào cung thờ chính.
- Truyền thống
- Tín ngưỡng thờ Mẫu
- Thờ chính
- Bà Chúa Kho
Sắm lễ tại Đền Bà Chúa Kho
- Hương, hoa tươi, quả chín, trầu cau, oản
- Ban Công Đồng có thể dâng lễ mặn; ban Sơn Trang dâng đồ chay và đặc sản rừng núi
- Tiền vàng, sớ theo hướng dẫn của nhà đền (nếu có)
- Hóa vàng đúng nơi quy định — nhiều di tích đã hạn chế đốt vàng mã
Thứ tự hành lễ
- Ban Công Đồng
- Ban thờ chính (Bà Chúa Kho)
- Cung Sơn Trang, lầu Cô, lầu Cậu (nếu có)
1. Văn khấn ban Công Đồng tại Đền Bà Chúa Kho
2. Văn khấn Bà Chúa Kho tại Đền Bà Chúa Kho
Bài khấn soạn theo khuôn văn khấn cổ truyền, điền đúng danh hiệu các vị được thờ tại Đền Bà Chúa Kho theo tư liệu hiện có. Chỗ in đỏ trong ngoặc là phần bạn tự điền. Nếu tại đền có niêm yết văn khấn riêng, nên đọc theo bản đó.
Đọc thêm: Văn khấn vay lộc, trả lễ Bà Chúa Kho · Văn khấn Tứ Phủ Công Đồng
Lịch sử
Tương truyền rằng vào thời nhà Lý, tại làng quê thanh bình Quả Cảm có người con gái vừa xinh đẹp, nết na vừa giỏi giang, khéo léo. Người con gái đó không chỉ có nhan sắc tuyệt trần mà còn biết tổ chức sắp xếp các công việc sản xuất, tích trữ lương thực, thực phẩm, giúp dân chống đói, giúp quân chống giặc. Một lần hành quân qua làng Quả Cảm, vua Lý đã đem lòng cảm mến người con gái tài sắc vẹn toàn đó, và đưa bà vào cung làm hoàng hậu. Tuy chỉ xuất thân trong gia đình nông dân, nghèo khó quanh năm gắn bó với ruộng đồng nhưng Bà lại là người rất thông minh, đa tài đa trí, cầm kỳ thi họa. Có thể nói là tài sắc vẹn toàn, người gặp là sẽ cảm mến. Khi được Vua Lý đưa vào cung làm vợ, bà đã tiến hành nhiều phương thức thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, khai hoang ruộng đất để canh tác. Đặc biệt Bà nhận thấy tại vùng quê nơi bà sinh ra đất đai còn hoang sơ, nên đã xin vua cho về quê để chiêu dân, lập ấp, gia tăng canh tác, nâng cao chất lượng đời sống của người dân nơi đây. Vào ngày 12 tháng giêng năm Đinh Tỵ – 1077 nước ta chính thức bị quân Tống kéo quân sang xâm lược. Toàn dân được Lý Thường Kiệt lãnh đạo để kháng chiến chống lại quân Tống hung ác. Và chính tại ngôi làng của Bà – làng Cổ Mễ, núi Kho, Cầu Gạo… đã được chủ quân lựa chọn làm nơi đặt lương thực. Bà đã tự mình cai quản, chỉ đạo, sắp xếp, sản xuất, tiếp tế lương thực cho quân đội tại kho lương ở chiến tuyến quan trọng tại Sông Như Nguyệt. Cũng như đảm bảo lương thực đời sống cho người dân nơi đây. Trong quá trình hoạt động, khi cuộc chiến gần như đã chiến thắng thì bà bị quân giặc giết chết trong một lần đi tiếp tế cho dân.
Vua Lý khi biết tin đã vô cùng thương tiếc, nên đã phong cho bà danh hiệu Phúc Thần để nói lên những công lao to lớn, vĩ đại mà Bà đã dành cho nhân dân, cho dân tộc. Người dân cũng thương nhớ và biết ơn Bà nên đã lập đền thờ tại chính kho lương cũ ở núi Kho và đặt tên cho đền thờ là đền Bà Chúa Kho. Để thể hiện lòng tôn kính, biết ơn mà nhân dân nơi đây dành cho Bà Chúa Kho.
Đền Bà Chúa Kho nằm trên lưng chừng ngọn núi Kho, đường Bà Chúa Kho, phường Vũ Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Đây không chỉ là khu di tích lịch sử có giá trị nằm trong quần thể di tích của khu Cô Mễ (gồm: Đình - Chùa - Đền) mà còn là nơi hàng năm nhân dân khắp cả nước hành hương mang tính tín ngưỡng. Ngay sau đền thờ Bà Chúa vẫn còn một đường hầm có kết cấu hình mái vòm nằm lùi sâu trong chân núi, chỗ cao nhất của đường hầm là gần 2m, đào xuyên qua lòng núi Kho để đi ra phía sông Cầu (sông Như Nguyệt), cửa hầm phía này rất khó bị phát hiện. Các bô lão nhiều đời đều nói đường hầm do Bà Chúa Kho xây dựng. Thời xa xưa, khi chưa có đê điều chống úng lụt cao rộng, kiên cố như bây giờ có lẽ cửa hầm cũng chính là bến cảng để tập kết và điều chuyển binh lực, vật lực đi các nơi. Đây cũng là cứ điểm quân sự lợi hại bởi tính bất ngờ, đặc biệt dễ thủ khó công. Khi đêm xuống quân đội Nhà Lý có thể bí mật tập kích quân địch đang đóng ở bờ bên kia sông Như Nguyệt sau đó xuôi dòng rút quân lên thành Thị Cầu. Phía trước đền Bà Chúa Kho là một đầm nước rất rộng bao quanh 3 mặt là núi có thể đi thuyền nhẹ vào tận chân núi Chùa hoặc xuyên ra hồ Thủy(nay đã bị bồi lấp) tiến theo hướng nam để về thành cổ Bắc Ninh(dọc theo đường tàu hỏa ngày nay). Suối Hoa xưa nằm trên con đường này; 1 mặt còn lại đi ra sông(nay bi chắn bởi con đê bằng bê tông). Trong những năm chiến tranh chống Mĩ nó là nơi đóng quân của tiểu đoàn cầu phà quân đội ta nên có thể suy ra rằng thời xưa có thể là nơi tập kết của thủy binh nhà Lý. Ngôi đền có liên quan đến sự kiện Lý Thường Kiệt lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1076. Vào thời đó ở làng Cô Mễ, núi Kho, Cầu Gạo... vốn là những nơi đặt kho lương thực của quân Lý ở bờ nam chiến tuyến Như Nguyệt (Sông Cầu). Núi Kho, núi Dinh, Thị Cầu cũng vốn là một vị trí chiến lược có thể kiểm soát con đường từ Lạng Sơn qua sông Cầu về Thăng Long xưa. Đền Cô Mễ thờ Bà Chúa Kho chính là nơi tưởng niệm một người phụ nữ Việt Nam đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời kỳ trước và sau chiến thắng Như Nguyệt. Vào đời nhà Lý, Bà có công giúp triều đình trông coi kho lương thực tại Núi Kho (thành phố Bắc Ninh) và đã "thác" trong cuộc kháng chiến chống quân Tống vào ngày 12 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1077). Nhà vua thương tiếc phong cho Bà là Phúc Thần. Người dân nhớ thương Bà lập nên đền thờ tại kho lương thực cũ của triều đình ở Núi Kho và gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho. Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm gần đó. Sau khi lấy vua Lý, thấy ruộng đất ở đây bị hoang hoá, bà xin vua cho về làng chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang. Không ai biết tên bà, khi bà qua đời, nhân dân lập đền thờ để ghi lại công ơn bà là đã hết lòng chăm lo cho dân ấm no, trông coi các "lẫm thóc, lẫm tiền" của Nhà nước. Công lao của bà đã được triều đại phong kiến ghi nhận qua việc sắc phong đền thờ bà là "Chủ khố linh từ" (Đền thiêng thờ bà Chúa Kho). Ở thôn Cô Mễ còn một ngôi đình và ngôi chùa cổ. Chùa Cô Mễ có từ lâu đời. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc. Chùa còn lại đến nay là kiến trúc thế kỷ XIX, làm theo kiểu chữ T chạm khắc công phu. Đình Cô Mễ kiểu chữ nhất với năm gian, hai vì. Các mảng chạm khắc gỗ thể hiện theo các đề tài long vân khánh hội, ngũ hổ tranh châu với nghệ thuật điêu luyện. Đình thờ Trương Hống, Trương Hát là những anh hùng có công giúp Triệu Quang Phục (549-570) chống giặc Lương.
Tranh cãi
Hiện nay một số nhà nghiên cứu công bố các công trình khảo cứu khẳng định Đền Bà Chúa Kho ở Bắc Ninh không thờ một người phụ nữ trông kho lương (dẫn chứng?) và chỉ ra các ngôi đền ở Hà Nội, Hà Tĩnh, Nam Định mới thực sự thờ (một vài) thần mẫu trông coi kho lương của triều đình (Triều Trần, Triều Nguyễn) Tuy nhiên các công bố này hầu như không đến với người dân, hàng năm vẫn có hàng nghìn người từ các nơi trên khắp Việt Nam và nước ngoài hành hương đầu xuân về Bắc Ninh để cầu tài cầu lộc, quan trọng nhất là vay tiền Bà Chúa Kho, mong cho một năm mới công việc xuôi thuận, phát tài. Ngôi đền có liên quan đến sự kiện Lý Thường Kiệt lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống năm 1076. Vào thời đó ở làng Cổ Mễ, núi Kho, Cầu Gạo... vốn là những nơi đặt kho lương thực của quân Lý ở bờ nam chiến tuyến Như Nguyệt (Sông Cầu). Núi Kho, núi Dinh, Thị Cầu cũng vốn là một vị trí chiến lược có thể kiểm soát con đường từ Lạng Sơn qua sông Cầu về Thăng Long xưa. Đền Cổ Mễ thờ Bà Chúa Kho chính là nơi tưởng niệm một người phụ nữ Việt Nam đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời kỳ trước và sau chiến thắng Như Nguyệt. Vào đời nhà Lý, Bà có công giúp triều đình trông coi kho lương thực tại Núi Kho (thành phố Bắc Ninh) và đã "thác" trong cuộc kháng chiến chống quân Tống vào ngày 12 tháng 1 năm Đinh Tỵ (1077). Nhà vua thương tiếc phong cho Bà là Phúc Thần. Người dân nhớ thương Bà lập nên đền thờ tại kho lương thực cũ của triều đình ở Núi Kho và gọi Bà với một niềm tôn kính là: Bà Chúa Kho. Bà Chúa Kho xuất thân từ một gia đình nghèo khó ở làng Quả Cảm gần đó. Sau khi lấy vua Lý, thấy ruộng đất ở đây bị hoang hoá, bà xin vua cho về làng chiêu dân lập ấp, khai khẩn ruộng hoang. Không ai biết tên bà, khi bà qua đời, nhân dân Đại Việt lập đền thờ để ghi lại công ơn bà là đã hết lòng chăm lo cho dân ấm no, trông coi các "lẫm thóc, lẫm tiền" của Nhà nước. Công lao của bà đã được triều đại phong kiến ghi nhận qua việc sắc phong đền thờ bà là "Chủ khố linh từ" (Đền thiêng thờ bà Chúa Kho). Ở thôn Cổ Mễ còn một ngôi đình và ngôi chùa cổ. Chùa Cổ Mễ có từ đời lý thế kỷ XI. Ngày nay trong chùa còn ba pho tượng đá khá đẹp mang rõ phong cách điêu khắc thời Mạc. Chùa còn lại đến nay là kiến trúc thế kỷ XIX, làm theo kiểu chữ T chạm khắc công phu. Cũng giống như ở Bắc Ninh gồm có(Đình-Chùa-Đền) có cả chùa Tiên và Đình làng,Chùa Tiên sơn là ngôi chùa cổ có từ thời nhà lý và Đền thờ Bà Chúa Kho là nơi tưởng niệm người phụ nữ đã khéo tổ chức sản xuất, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng quốc gia trong thời kỳ trước và sau Chiến thắng Như Nguyệt (1076)cũng có từ thời này sau này do chiến tranh và phong trào bài trừ tín ngưỡng dân gian nên ngôi chùa đã bị phá đổ nát, miếu Bà Chúa cũng theo đó xuống cấp,mãi tới gần cuối thế Kỷ 18 dân làng ở đây đã trùng tu lại nhỏ gọn bên cánh tả của chùa Tiên sơn phía Sau chùa Tiên Sơn là kho quân lương dành cho quân binh sĩ và tích trử cứu đói cả vùng Phủ Đức Quang,Thiên Lộc, La Sơn Theo Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí tại núi Tiên, "Minh Lang Minh Lương Vân Chàng" thuộc bộ Việt thường cổ Vương quốc kinh đô ngàn Hống cư dân bộ lạc Việt thường quốc bên cạnh Sông Lam (Cựu Đô Ngàn Hống) của cư dân bộ lạc Việt thường quốc bên Sông La, kênh nhà Lê (dòng Minh giang) và Sông Lam dưới chân núi Hùng Bảo Thứu Lĩnh,(cựu Đô) (Ngàn Hống) nay là Hồng Lĩnh có 199 ngọn (Theo Ngọc Phả Hùng Vương hiện lưu giữ tại bảo tàng Hùng Vương bên cạnh Dinh Đô Quan Hoàng Mười Tương truyền, Bà Chúa
Nguồn nội dung. Phần lịch sử, kiến trúc và lễ hội tóm lược từ bài Đền Bà Chúa Kho (Bắc Ninh) trên Wikipedia tiếng Việt, giấy phép CC BY-SA 4.0 — phần trích dẫn này cũng theo cùng giấy phép. Thông tin có thể thay đổi theo thời gian; nếu bạn biết chi tiết chính xác hơn, xin góp ý giúp.