Chùa Dàn

Chùa Dàn (tên chữ là Trí Quả tự) còn gọi là Chùa Dàn Phương Quan hay Chùa Dàn Câu là ngôi chùa thuộc hệ thống Tứ pháp, tương truyền được dựng từ thế kỷ thứ 2. Chùa nằm ở khu phố Phương Quan, phường Trí Quả, tỉnh Bắc Ninh.

Mục lục
  1. Văn khấn Chùa Dàn
  2. Kiến trúc và quy mô
  3. Tên gọi
  4. Pháp Điện

Văn khấn Chùa Dàn

Chùa Dàn là chùa Phật giáo Bắc tông, thờ chính Pháp Điện, phối thờ Thành Hoàng và Tổ nghề. Khi lễ tại đây, nếu chùa có ban Đức Ông thì lễ ở đó trước, rồi lên chính điện khấn Tam Bảo, sau đó mới lễ ban Mẫu; ban Phật chỉ dâng lễ chay.

Truyền thống
Phật giáo Bắc tông
Thờ chính
Pháp Điện
Phối thờ
Thành Hoàng và Tổ nghề

Sắm lễ tại Chùa Dàn

  • Hương, hoa tươi (sen, huệ, cúc), quả chín
  • Oản, xôi chè, bánh kẹo chay
  • Ban Tam Bảo chỉ dâng lễ chay — không đặt đồ mặn, rượu, vàng mã
  • Ban Đức Ông có thể dâng thêm lễ mặn nếu nhà chùa cho phép
  • Ban Mẫu dâng thêm trầu cau, oản, hoa quả
  • Tiền công đức bỏ vào hòm, không rải lên ban thờ hay tay tượng

Thứ tự lễ tại Chùa Dàn

  1. Tam quan
  2. Phương đình
  3. Tiền tế
  4. Ống muống
  5. Thượng cung
  6. Tam Bảo hậu

1. Văn khấn ban Tam Bảo tại Chùa Dàn

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Đại Thánh Pháp Điện Phật. Con kính lạy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Con kính lạy Đức Phật A Di Đà. Con kính lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, cùng chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con thành tâm về cửa chùa Dàn, tại làng Dàn Câu, tỉnh Bắc Ninh, dâng nén tâm hương cùng lễ vật chay tịnh, kính dâng lên Tam Bảo. Cúi xin chư Phật, chư vị Bồ Tát từ bi chứng giám, gia hộ cho tín chủ con cùng toàn gia thân tâm an lạc, tiêu trừ nghiệp chướng, bệnh tật tiêu tan, trí tuệ sáng suốt, biết sống thiện lành, làm điều lợi ích. Nguyện đem công đức này hồi hướng cho cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp cùng khắp pháp giới chúng sinh đều được an vui. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

2. Văn khấn ban Đức Ông tại Chùa Dàn

Dùng khi chùa có ban Đức Ông — phần lớn chùa miền Bắc đều có ban này ở tiền đường.

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con về lễ tại chùa Dàn, tại làng Dàn Câu, tỉnh Bắc Ninh, đến trước điện Đức Ông thành tâm kính lễ, hiến dâng phẩm vật, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh. Cúi xin Đức Ông từ bi chứng giám, phù hộ độ trì cho tín chủ con cùng gia quyến được mạnh khỏe bình an, gia đạo yên ổn, công việc hanh thông, sở cầu như ý. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

3. Văn khấn ban Mẫu tại Chùa Dàn

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con lạy đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng đế. Con lạy Tam Tòa Thánh Mẫu: Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ. Con lạy chư vị Thánh Mẫu được phụng thờ tại chùa Dàn. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con nhất tâm về cửa Mẫu tại chùa Dàn, tại làng Dàn Câu, tỉnh Bắc Ninh, thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kính dâng trước án, cúi đầu bái vọng. Cúi xin Thánh Mẫu từ bi chứng giám, thương xót tín chủ, giáng phúc lưu ân. Cúi xin Mẫu ban cho gia đình chúng con sức khỏe dồi dào, tâm an trí sáng, gia đạo hòa thuận, con cháu hiếu thảo, làm ăn thuận lợi, gặp dữ hóa lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

4. Văn khấn Thành Hoàng và Tổ nghề tại Chùa Dàn

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Thành Hoàng. Con kính lạy Tổ nghề. Con kính lạy chư vị được phụng thờ tại chùa Dàn. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con về lễ tại chùa Dàn, tại làng Dàn Câu, tỉnh Bắc Ninh, thành tâm dâng nén tâm hương, cúi đầu tưởng nhớ công đức của Thành Hoàng và Tổ nghề. Cúi xin chư vị chứng giám lòng thành, phù hộ độ trì cho tín chủ con cùng toàn gia thân tâm an lạc, gia đạo bình yên, mọi sự tốt lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

Bài khấn soạn theo khuôn văn khấn cổ truyền, điền đúng danh hiệu các vị được thờ tại Chùa Dàn theo tư liệu hiện có. Chỗ in đỏ trong ngoặc là phần bạn tự điền. Nếu tại chùa có niêm yết văn khấn riêng, nên đọc theo bản đó.

Đọc thêm: Văn khấn đi lễ chùa — nguyên tắc chung · Văn khấn ban Tam Bảo

Kiến trúc và quy mô

Dấu tích Chùa Dàn từ thời Bắc thuộc không còn lại gì. Kiến trúc còn lại đến ngày nay là của thời Lê Trung Hưng - Nguyễn. Lần trùng tu gần đây nhất là năm 2017. Hiện quần thể di tích gồm chùa và đình Dàn liên hoàn theo kiểu "tiền Thần hậu Phật" gồm: tam quan, phương đình, tiền tế, ống muống, thượng cung; phía sau là tam bảo hậu, nhà tổ, nhà mẫu, tháp mộ, vườn cây bao quanh. Nhìn thẳng sau Tam quan là phương đình thời Nguyễn khá đồ sộ làm theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái đao cong mới được phục dựng. Khu thờ tự chính của chùa gồm: Tiền tế (còn được gọi là Đình Thượng) còn bảo lưu nguyên vẹn kiến trúc thời Lê - Nguyễn. Tiền tế có quy mô lớn với diện tích (21m x 9m) gồm 5 gian 2 chái với bốn góc đao cong vút, mái lợp ngói mũi, giữa bờ nóc đắp hình "Lưỡng long chầu nguyệt", đầu kìm là 2 đầu rồng lớn; các góc đao được tạo dáng cong vút nhưng mềm mại duyên dáng, đầu đao trang trí hình rồng, phượng; bờ dải đắp nổi nghê chầu. Bộ khung được làm bằng gỗ lim to khỏe vững chắc (cột cái là 1,30m, cột quân là 0,85m), vì nóc kiểu "con chồng giá chiêng" ăn mộng với các hàng cột dọc và ngang, liên kết với hệ thống hoành, xà, cốn, bẩy. Trên các bộ phận kiến trúc như đầu dư, cốn, bẩy đều được chạm nổi Tứ linh tinh xảo nghệ thuật. Đặc biệt là các đầu dư được chạm thành hình đầu rồng bằng kỹ thuật chạm kênh bong các nghệ nhân xưa đã thể hiện những đầu rồng to lớn, miệng há rộng để lộ rõ viên ngọc, bờm và râu tóc bay ngang nét mác mang phong cách nghệ thuật của thời Hậu Lê. Tại gian giữa đặt một sập thờ cổ kiểu chân quỳ chạm khắc xảo nghệ thuật; gian bên phải đặt ban thờ "Tổ nghề" có công dạy dân làng nghề làm lưỡi câu. Ống muống là một tòa nhà chạy dọc nối giữa Tiền tế và Thượng cung bằng hệ thống vì, cột, kẻ góc, diện tích (7,30m x 8,10m), gồm 3 gian, bộ khung gỗ lim liên kết với nhau bởi các hàng cột dọc và ngang dọc (chu vi cột cái là 1,0m, chu vi cột quân là 0,68m). Ngăn giữa Ống muống và Thượng cung là hệ thống cửa cấm được trang trí hoa văn rồng mây. Tại Ống muống là nơi đặt khám thờ và ngai bài vị của Thành Hoàng. Thượng cung nối với Ống muống, gồm 1 gian 2 chái với 4 mái đao cong, đỉnh nóc đắp nổi "Lưỡng phượng chầu đề" rất độc đáo. Bộ khung được làm bằng gỗ lim chắc khỏe, liên kết với nhau bởi vì nóc và các hàng cột dọc và ngang (cột cái có chu vi 1,35m, cột quân có chu vi 1,0m). Trên câu đầu còn nguyên dòng chữ Hán ghi khắc năm trùng tu tôn tạo vào thời vua Thành Thái (1903):

Thành Thái thập tứ niên, thập nhất nguyệt, thập lục nhật, tuế thứ Nhâm Dần thập nhị nguyệt thập lục nhật thụ trụ thượng lương thời đại cát. Sau cùng là Tam Bảo hậu với kiến trúc thời Nguyễn, có kết cấu kiểu chuôi vồ gồm 7 gian tiền đường và 3 gian thượng điện, bộ khung gỗ lim chắc khỏe; vì nóc theo kiểu "con chồng, giá chiêng" liên kết với hệ thống cột, cốn ván mê, bẩy. Tam Bảo hậu là nơi có các lớp tượng về sau và cũng được bài trí như những ngôi chùa làng khác. Ngoài ra, còn có các công trình khác như nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà sư, vườn Tháp... tạo thành một quần thể di tích. Ngoài ra chùa còn bốn tấm bia có niên đại triều Nguyễn.

Tên gọi

Tên chữ của chùa là Trí Quả tự (chữ Hán:智果寺) trùng với tên của phường Trí Quả. Tuy nhiên tên chùa có lẽ đã tồn tại từ trước tên phường. Trong sách Thiền uyển tập anh đã nói đến vị thiền sư tu tại chùa này từ đời nhà Lý:

Chùa thường được gọi là chùa Dàn, gọi tắt từ chùa Dàn Câu theo tên nôm của làng Phương Quan (làng Dàn Câu). Tuy nhiên cách chùa khoảng 800m, cùng phường Trí Quả, có một ngôi chùa nữa tại khu phố Xuân Quan (làng Dàn Chợ) cũng tên là chùa Dàn nên chùa được gọi là Chùa Dàn Phương Quan hay Chùa Phương Quan để phân biệt. Chùa nằm ngay cạnh đình làng Dàn Câu nên cũng gọi chung là cụm đình - chùa Dàn.

Pháp Điện

Chùa Dàn Câu là nơi thờ chính của Pháp Điện hay còn gọi "Đại Thánh Pháp Điện Phật " đứng thứ tư trong Tứ Pháp, chủ quản về Chớp (chữ Hán:電 - điện), gắn lền với truyện Phật Mẫu Man Nương. Xưa Sĩ Nhiếp nhờ Man Nương vớt được cây Dâu trên sông trước của thành Luy Lâu, tạc thành 4 pho tượng Phật, tạc đến pho thứ tư thì trời có chớp liền đặt tên Pháp Điện, cho dựng chùa Trí Quả để thờ phụng, tên nôm của làng là Dàn nên Pháp Điện cũng được gọi là Bà Dàn. Cùng với Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, nhân dân quan niệm Tứ pháp là bốn chị em, trong đó Bà Dâu là chị cả, Bà Đậu là chị hai, Bà Tướng là chị thứ ba và em út là Bà Dàn. Chùa còn lưu giữ được các sắc phong năm Chiêu Thống nguyên niên (1786), Bảo Hưng nhị niên (1802) phong cho Phật Pháp Điện và hai vị Thành Hoàng trong đình làng Dàn Câu:

Phật Pháp Điện: Đại thánh Pháp Điện dực thánh bản cảnh tuệ tĩnh tôn thần Bản cảnh Thành hoàng: Thiên quang linh ứng đại vương Bản xứ Thổ địa: Thổ kỳ linh ứng đại vương Tượng Pháp Điện còn lại đến nay có niên đại khoảng thế kỷ 18, được công nhận là bảo vật quốc gia số 10, đợt 6 (năm 2017) cùng với ba pho tượng Tứ pháp còn lại. Tượng cao 1,7m, tọa thiền trên tòa sen mặt hiền từ phúc hậu, gò má cao, sơn màu đỏ tươi, mắt sáng mày cong, miệng mỉm cười tinh nghịch,bàn tay phải giơ lên, tay trái để trên đùi, trong lòng bàn tay có hạt minh châu. Bà Dàn là em út nên được tạc gương mặt trẻ và tươi vui nhất trong các tượng Tứ Pháp. Trong lễ rước tượng của Hội Dâu, kiệu của Bà Dàn phải đi cuối, và do Bà Dàn tinh nghịch, nên bao giờ cũng phải chờ kiệu các chị đi một đoạn xa rồi mới đi theo, do trên đường bà Dàn sẽ cho kiệu chạy lung tung, rẽ phải rẽ trái, rồi chạy rất nhanh. Kiệu rước bà Dàn cũng phải đi kèm mục "đánh gậy" để dẹp lối cho các đoàn rước và lấy đất mở hội. Ba mươi hai thanh niên làng Dàn khoẻ mạnh, được phân công đi thành đoàn, mỗi người mang theo một cây gậy tre (gậy tre cuốn giấy đỏ bên ngoài thì gọi là "hồng côn"; gậy tre "bánh tẻ" đem xát muối, phơi nắng cho trắng thì gọi là "bạch trượng"), vừa đi vừa múa theo một vũ điệu nhanh, mạnh để mở lối.

Nguồn nội dung. Phần lịch sử, kiến trúc và lễ hội tóm lược từ bài Chùa Dàn trên Wikipedia tiếng Việt, giấy phép CC BY-SA 4.0 — phần trích dẫn này cũng theo cùng giấy phép. Thông tin có thể thay đổi theo thời gian; nếu bạn biết chi tiết chính xác hơn, xin góp ý giúp.