Chùa Cổ Pháp

Chùa Cổ Pháp (tên chữ: Cổ Pháp tự (古法寺)) là một ngôi chùa tọa lạc tại khu phố Đại Đình, phường Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Chùa Cổ Pháp còn có tên là chùa Tương Giang, là một Tổ đình, trung tâm Phật giáo của phái Tì Ni Đa Lưu Chi.

Văn khấn Chùa Cổ Pháp

Chùa Cổ Pháp là chùa Phật giáo Bắc tông, thờ Phật tổ, Tổ Tây Trúc, Tổ Việt Nam và Tổ phái Tì Ni Đa Lưu Chi cùng một số vị khác. Khi lễ tại đây, nếu chùa có ban Đức Ông thì lễ ở đó trước, rồi lên chính điện khấn Tam Bảo, sau đó mới lễ ban Mẫu; ban Phật chỉ dâng lễ chay.

Truyền thống
Phật giáo Bắc tông
Thờ
Phật tổ, Tổ Tây Trúc, Tổ Việt Nam, Tổ phái Tì Ni Đa Lưu Chi và Tổ ni của chùa

Sắm lễ tại Chùa Cổ Pháp

  • Hương, hoa tươi (sen, huệ, cúc), quả chín
  • Oản, xôi chè, bánh kẹo chay
  • Ban Tam Bảo chỉ dâng lễ chay — không đặt đồ mặn, rượu, vàng mã
  • Ban Đức Ông có thể dâng thêm lễ mặn nếu nhà chùa cho phép
  • Ban Mẫu dâng thêm trầu cau, oản, hoa quả
  • Tiền công đức bỏ vào hòm, không rải lên ban thờ hay tay tượng

Thứ tự hành lễ

  1. Ban Đức Ông (nếu có, thường ở tiền đường)
  2. Chính điện — ban Tam Bảo
  3. Nhà Mẫu
  4. Các ban phối thờ
  5. Nhà Tổ (nếu có)

1. Văn khấn ban Tam Bảo tại Chùa Cổ Pháp

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Phật tổ. Con kính lạy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Con kính lạy Đức Phật A Di Đà. Con kính lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, cùng chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con thành tâm về cửa chùa Cổ Pháp, tại làng Đại Đình, tỉnh Bắc Ninh, dâng nén tâm hương cùng lễ vật chay tịnh, kính dâng lên Tam Bảo. Cúi xin chư Phật, chư vị Bồ Tát từ bi chứng giám, gia hộ cho tín chủ con cùng toàn gia thân tâm an lạc, tiêu trừ nghiệp chướng, bệnh tật tiêu tan, trí tuệ sáng suốt, biết sống thiện lành, làm điều lợi ích. Nguyện đem công đức này hồi hướng cho cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp cùng khắp pháp giới chúng sinh đều được an vui. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

2. Văn khấn ban Đức Ông tại Chùa Cổ Pháp

Dùng khi chùa có ban Đức Ông — phần lớn chùa miền Bắc đều có ban này ở tiền đường.

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con về lễ tại chùa Cổ Pháp, tại làng Đại Đình, tỉnh Bắc Ninh, đến trước điện Đức Ông thành tâm kính lễ, hiến dâng phẩm vật, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh. Cúi xin Đức Ông từ bi chứng giám, phù hộ độ trì cho tín chủ con cùng gia quyến được mạnh khỏe bình an, gia đạo yên ổn, công việc hanh thông, sở cầu như ý. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

3. Văn khấn ban Mẫu tại Chùa Cổ Pháp

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con lạy đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng đế. Con lạy Tam Tòa Thánh Mẫu: Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ. Con lạy chư vị Thánh Mẫu được phụng thờ tại chùa Cổ Pháp. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con nhất tâm về cửa Mẫu tại chùa Cổ Pháp, tại làng Đại Đình, tỉnh Bắc Ninh, thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kính dâng trước án, cúi đầu bái vọng. Cúi xin Thánh Mẫu từ bi chứng giám, thương xót tín chủ, giáng phúc lưu ân. Cúi xin Mẫu ban cho gia đình chúng con sức khỏe dồi dào, tâm an trí sáng, gia đạo hòa thuận, con cháu hiếu thảo, làm ăn thuận lợi, gặp dữ hóa lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

4. Văn khấn ban Tổ tại Chùa Cổ Pháp

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Tổ Tây Trúc. Con kính lạy Tổ Việt Nam. Con kính lạy Tổ phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Con kính lạy Tổ ni của chùa. Con kính lạy chư vị được phụng thờ tại chùa Cổ Pháp. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con về lễ tại chùa Cổ Pháp, tại làng Đại Đình, tỉnh Bắc Ninh, thành tâm dâng nén tâm hương, cúi đầu tưởng nhớ công đức của Tổ Tây Trúc, Tổ Việt Nam, Tổ phái Tì Ni Đa Lưu Chi và Tổ ni của chùa. Cúi xin chư vị chứng giám lòng thành, phù hộ độ trì cho tín chủ con cùng toàn gia thân tâm an lạc, gia đạo bình yên, mọi sự tốt lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

Bài khấn soạn theo khuôn văn khấn cổ truyền, điền đúng danh hiệu các vị được thờ tại Chùa Cổ Pháp theo tư liệu hiện có. Chỗ in đỏ trong ngoặc là phần bạn tự điền. Nếu tại chùa có niêm yết văn khấn riêng, nên đọc theo bản đó.

Đọc thêm: Văn khấn đi lễ chùa — nguyên tắc chung · Văn khấn ban Tam Bảo

Lịch sử

Tên chùa Cổ Pháp: Theo sách Thiền uyển tập anh và Việt Nam Phật giáo Sử luận thì tên Cổ Pháp là do tích Tổ sư đời thứ 8 phái Tì Ni Đa Lưu Chi là Định Không đặt lại tên ở quê mình (hương, làng Cổ Pháp) mà thành. Sự tích như sau: Khoảng niên hiệu Đường Trinh Nguyên (785-805), khi Tổ sư Định Không dựng chùa Quỳnh Lâm ở địa phương, lúc đào móng chùa thì được 1 bình hương và 10 chiếc khánh đồng. Tổ sư sai người đem ra sông để rửa sạch thì 1 chiếc rơi xuống sông trôi liệng mãi đến khi chạm đất mới nằm im. Tổ sư nói rằng: Thập khẩu là 10 cái miệng (Thập là 10, Khẩu là mồm miệng), chữ Thập [十] đặt chồng lên chữ Khẩu [口] thành chữ Cổ [古] (nghĩa là cũ, xưa); Thủy khứ là đi xuống nước (Thủy là nước, Khứ là đi) chữ Thủy [氵] đặt cạnh chữ Khứ [去] là chữ Pháp [法] (nghĩa là Pháp Phật hoặc Luật pháp). Chữ Thập [十] đặt trên chữ Nhất [一] thành ra chữ Thổ [土] (đất), nghĩa là 10 miếng, mất 1 miếng thì là trở về với đất và liệng về phía Hương (làng xã) của ta nên đổi tên hương Diên uẩn (Diên Uốn) là hương Cổ Pháp. Nếu đọc theo Hán Việt thì Cổ Pháp là Nghi thức cổ xưa, Luật pháp cổ xưa). Nếu đọc theo âm Nôm là Pháp cổ nghĩa là Trống pháp. Trống pháp nghĩa là âm thanh Phật giảng pháp vang xa như tiếng trống, nghĩa đen là Phật pháp thịnh hưng. Xứ Kinh Bắc xưa còn có Cổ Loa (loa cổ), Cổ bi (Bia cổ). Rồi Tổ sư làm bài kệ Tụng như sau: Đất dâng Pháp khí - Hạng nhất đồng ròng Gặp thời Phật pháp thịnh hưng - Đặt tên làng Cổ Pháp. (Địa trình pháp khí - Nhất phẩm trinh đồng Tri Phật pháp chi long hưng - Lập hương danh chi Cổ Pháp) Lại có một bài thơ khác: Pháp khí hiện ra - Khánh đồng mười tấm Họ Lý làm vua - Công đầu Tam phẩm. (Pháp lại xuất hiện - Thập khẩu đồng chung Lý thị hưng vương - Tam phẩm thành công) Lại một bài khác: Mười cái xuống nước đất - Cổ Pháp tên làng ta Gà ngồi lưng loan phượng - Tam bảo đến lúc hưng. (Thập khẩu thủy thổ khứ - Cổ Pháp danh hương hiệu Kê cư loan nguyệt hậu - Chính thị hưng Tam bảo) Theo sử sách và một số công trình khảo cứu thì trước kia, chùa Cổ Pháp thuộc hương (xã, làng) Diên uẩn (hương Diên Uốn, hương Cổ Pháp), châu Cổ Pháp (sau thời lý gọi là Cổ Lãm), phủ Từ Sơn, xứ Kinh Bắc, sau này thuộc thôn Đại Đình (Bản doanh của triều đình) hay Đình Sấm, Dương Lôi; tên nôm gọi là Nuốn (có thể từ chữ Diên Uốn mà ra); sau thuộc huyện Đông ngàn (sau lại đổi là huyện Từ Sơn). Chùa Cổ Pháp tọa lạc khu vực có nhiều dòng sông nổi tiếng là sông Tiêu Tương (Tương giang) với cầu chuyện tình đẫm nước mắt của chàng Trương Chi thổi sáo với nàng công chúa Mỵ Nương, sông Thiên Đức, sông Tào Khê (Tổ sư đời thứ sáu của phái Thiền - Lục Tổ Tuệ Năng tu ở núi Tào Khê), rừng báng, núi Đại Sơn và, chùa Dặn, chùa Lục Tổ có tượng vàng của (Lục Tổ Tào Khê Tuệ Năng)... Hương Cổ Pháp là quê hương của vua Lý Công Uẩn, nơi phát tích của triều Lý và gắn liền các Tổ sư: Định Không, Thông Thiện, La Quý An, Thiền Ông, Vạn Hạnh, Khánh Văn... và các ngôi chùa ở đây là chùa Cổ Pháp, chùa Lục Tổ (tức chùa Tiêu - Thiên Tâm tự trên núi Tiêu thuộc xã Tương Giang tên cũ là Dịch Bảng), chùa Dận (ở xã Đình Bảng). Việc vua Lý Công Uẩn có phải sinh ra, lớn lên ở chùa làng - quê mẹ (bà Phạm Thị) là chùa Cổ Pháp hay sinh ra ở chùa Dận (Đình Bảng) thì vẫn còn tranh cãi. Tuy nhiên sử sách thì cho rằng bà Phạm Thị làm sãi ở chùa Tiêu (Khi đó Tổ sư Vạn Hạnh đang trụ trì), khi đau đẻ thì về đến chùa chùa Dận (ý là dặn đẻ) nhưng cố về chùa Cổ Pháp thì mới sinh vua Lý Công Uẩn. Chùa Cổ Pháp là nơi vua Lý Công Uẩn sinh ra, lớn lên (Tổ sư Vạn Hạnh giao cho Tổ sư Khánh Văn nuôi) Theo sách Thiền uyển Tập anh và Việt Nam Phật giáo Sử luận thì trước khi mất Tổ sư Định Không dặn lại Đệ tử trước khi mất là Thông Thiện (hoặc Thông Biện): Đất Cổ Pháp này là đất quan trọng, sau này có thể có kẻ dị nhân đến phá, phải giữ gìn cẩn thận... Đất này bị phá hoại thì vĩ nhân không xuất hiện cứu nước và làm hưng thịnh Phật Pháp được. Trước khi mất, Tổ sư Thông Thiện dặn lại Đệ tử là La Quý An cũng như vậy. Tổ sư La Quý An cho rằng khi Cao Biền đắp thành Đại la thì cho đào 19 cái ao ở khu vực này (xã Phù Chẩn hiện nay)là phá khí Đế vương ở đất Cổ Pháp nên đã cho lấp 19 ao trên. Ông cũng cho đúc tượng Lục Tổ Tuệ Năng bằng vàng và trồng cây gạo ở chùa Minh Châu (hay Gia Châu, Cha Lư) để trấn (năm Bính thân - 936) và để lại bài sấm như sau: Trên núi đầu Rồng xuất hiện - Đuôi Rắn ẩn ngọc Minh châu 18 chàng trai nhất định thành công - Khi hình Rồng hiện ở cây gạo Vào tháng chuột, ngày gà, giờ thỏ - Mặt trời rực rỡ trên mây xanh. (Đại sơn long đầu khởi - Xà vĩ ẩn minh châu Thập bát tử định thành [ghép thành chữ Lý] - Miên thọ hiện long trình Thố kê thử nguyệt nội - Định kiến nhật xuất thanh) Đại Việt Sử ký Toàn thư nói rằng sét đánh lên cây gạo tạo bài Sấm trên thân cây gạo: Gốc cây thăm thẳm - Ngọn cây xanh xanh Cây đào, hoa rụng - Mười tám hạt thành Cành đông xuống đất - Cây khác lại sinh Đông mặt trời mọc - Tây sao ẩn hình Sáu bảy năm nữa - Thiên hạ thái bình. (Thụ căn diểu diểu - Mộc biểu thanh thanh Hòa đao mộc lạc - Thập bát tử thành Đông a nhập địa - Dị mộc tái sinh Chấn cung kiến nhật - Đoài cung ẩn tinh Lục thất niên gian - Thiên hạ thái bình) Sau, Tổ sư Vạn Hạnh luận rằng: Thụ căn là gốc (vua); chữ Diểu đồng âm với chữ yểu (vua chết yểu); chữ Biểu là ngọn (bầy tôi), chữ thanh là xanh, đồng âm với chữ thịnh. Nghĩa là một người trong số Quần thần sẽ làm vua. 3 chữ hòa đao mộc góp lại là Lê, lạc là rơi (Lê lạc tức là nhà Tiền Lê đổ); 3 chữ thập bát tử (chữ [十] và chữ [八]) ghép thành chữ Mộc [木], chữ Mộc trên chữ Tử [子] thành chữ Lý [李] nghĩa là nhà Lý làm vua; Đông a nhập địa là chỉ phương Bắc xâm lăng. Do sét đánh cây gạo nên hương [làng hoặc xã] Cổ Pháp sau này gọi là Đình Sấm, Dương Lôi. Hiện gần nền chùa Minh Châu cổ xưa ở làng Đại Đình - Dương Lôi có chùa Cha Lư (âm Chư lư chỉ một loại cây to, Lư là cây gỗ gụ) mà Cha lư thường gắn với việc cầu phúc, tiếng Chàm có nghĩa là Thần sấm (Đình Sấm, Dương Lôi) và Hán học là nơi sinh ra Thánh nhân. Sách Thiên Nam Ngữ lục nói chùa Gia Châu (hay Minh Châu, Cha Lư) là nơi sinh của Lý Công Uẩn. Về tên Lý Công Uẩn đã thể hiện là người làng hương Diên uẩn (hương Diên Uốn, hương Cổ Pháp). Truyền thuyết và các tài liệu đều thống nhất là mẹ Lý Công Uẩn (bà Phạm Thị) người làng Đình Sấm - Dương Lôi. Bà được thờ làm Thánh mẫu ở chùa Cha Lư, đền Lý Thánh Mẫu (đền Miễu) và được là Thành hoàng thờ cùng 8 vị vua nhà Lý ở đình - đền Dương Lôi (ở Dương Lôi hiện còn di tích mộ cha mẹ bà Phạm Thị ở khu vực cánh đồng Miễu). Văn bia cổ xác nhận Dương Lôi là đất thang mộc ấp của bà.

Kiến trúc và quy mô

Chùa hiện Cổ Pháp nay được phục dựng trên nền đất cũ cũ nhìn ra đường lộ 179 (chéo về tay phải bên kia đường là đền Đô. Mặt đường lộ 179 là cổng Tam quan, trước có giếng đất, trước giếng sát đường có Tứ trụ (4 cột) và bên cạnh có giếng nhỏ mắt rồng (Long nhãn tỉnh) tương truyền là giếng tắm cho vua Lý Công Uẩn ở chùa khi còn bé. Chùa chính lối chữ Đinh [丁] (chuôi vồ) 8 mái, 8 đao; gồm 7 gian Tiền bái và 3 gian Thượng hùng Bảo điện (phục dựng năm Mậu Dần - 1998). Tượng Phật gồm 13 pho tượng cổ và còn lại là tượng mới như các chùa miền Bắc. Ngoài ra còn có 2 pho tượng ít chùa có là tượng Bồ tát Quán Thế âm Tọa sơn (Quán âm Hương Tích) và tượng Bồ tát Quán Thế âm Tống tử (Quán âm Thị kính). Hang tìm lại được 1 Đại Hồng chung (chuông lớn) cổ cao 2 thước 3 tấc, rộng 1 thước 4 tấc, trên chuông khắc tên chùa Cổ Pháp và lịch sử ngôi chùa. Nhà tổ (phục dựng dịp 1000 năm Thăng Long - năm 2010) là tòa chữ Nhị [二] gồm 2 tòa 8 mái, 8 đao; 5 gian Tiền bái và 5 gian thờ Tổ (Phật tổ, Tổ Tây Trúc, Tổ Việt Nam, Tổ phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Tổ ni của chùa. Bên hữu chùa, phía trước là vườn Tháp Phật và các tháp Tổ; phía sau là 7 gian nhà Mẫu như các ngôi chùa khác. Ngoài ra còn có tượng Phật tổ Thích ca Mâu ni cao chừng 3 m bằng đồng sau Tam bảo, tượng Bồ tát Quán Thế âm ngoài trời, tượng tiểu cảnh Lục Tổ Tuệ Năng giã gạo và có tượng bà Phạm Thị Chiêu Dung...

Nguồn nội dung. Phần lịch sử, kiến trúc và lễ hội tóm lược từ bài Chùa Cổ Pháp trên Wikipedia tiếng Việt, giấy phép CC BY-SA 4.0 — phần trích dẫn này cũng theo cùng giấy phép. Thông tin có thể thay đổi theo thời gian; nếu bạn biết chi tiết chính xác hơn, xin góp ý giúp.