Chùa Phước Hưng
Phước Hưng Tự (còn gọi là chùa Hương) là một cổ tự, hiện tọa lạc tại số 461 đường Hùng Vương, phường 1 (cũ), thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam.
Văn khấn Chùa Phước Hưng
Chùa Phước Hưng là chùa Phật giáo Bắc tông, thờ chính A Di Đà, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, phối thờ Phật Mẫu Chuẩn Đề, Văn Thù, Phổ Hiền và Địa Tạng cùng một số vị khác. Khi lễ tại đây, lên chính điện khấn Tam Bảo trước; ban Phật chỉ dâng lễ chay.
- Truyền thống
- Phật giáo Bắc tông
- Thờ chính
- A Di Đà, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí
- Phối thờ
- Phật Mẫu Chuẩn Đề, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng, Tiêu Diện Đại sĩ, Thiện Hữu, Ác Hữu, Ngọc Hoàng Thượng đế, Nam Tào, Bắc Đẩu và Hộ Pháp
Sắm lễ tại Chùa Phước Hưng
- Hương, hoa tươi (sen, huệ, cúc), quả chín
- Oản, xôi chè, bánh kẹo chay
- Ban Tam Bảo chỉ dâng lễ chay — không đặt đồ mặn, rượu, vàng mã
- Tiền công đức bỏ vào hòm, không rải lên ban thờ hay tay tượng
Thứ tự hành lễ
- Chính điện — ban Tam Bảo
- Các ban phối thờ
- Nhà Tổ (nếu có)
1. Văn khấn ban Tam Bảo tại Chùa Phước Hưng
2. Văn khấn Ngọc Hoàng Thượng đế tại Chùa Phước Hưng
Bài khấn soạn theo khuôn văn khấn cổ truyền, điền đúng danh hiệu các vị được thờ tại Chùa Phước Hưng theo tư liệu hiện có. Chỗ in đỏ trong ngoặc là phần bạn tự điền. Nếu tại chùa có niêm yết văn khấn riêng, nên đọc theo bản đó.
Đọc thêm: Văn khấn đi lễ chùa — nguyên tắc chung · Văn khấn ban Tam Bảo
Kiến trúc và quy mô
Chùa Phước Hưng có lối kiến trúc khá đặc biệt hơn các cổ tự ở miền Nam Việt Nam, đó là kiểu giống ngôi đình làng hơn là ngôi chùa (ảnh bên). Chùa có 8 mái và 2 cấp, được lợp ngói âm dương, gồm:
Chánh điện là một tòa nhà hình chữ nhật (dài 19,50 m x rộng 14 m). Mái lợp ngói âm dương, hai tầng, tạo gợn sóng, các góc cạnh cong vút lên cao. Trên nóc là phù điêu hình long, lân, quy, phụng...được tô đắp bằng miễn chén kiểu, màu sắc sặc sỡ. Các bức hoành phi, liễn đối khắc trên gỗ hoặc trên cột đều sơn son thếp vàng. Mặt tiền chánh điện có đôi câu đối bằng chữ Hán: 福种菩提地 興培般若門 Phiên âm Hán -Việt: Phước chủng Bồ đề địa Hưng bồi Bát nhã môn. Tạm dịch: Phước gieo đất Bồ đề Hưng bồi cửa Bát nhã. Trong chánh điện thờ các tượng:
- Bộ tượng Tây phương Tam Thánh, gồm: A Di Đà, Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Đặc biệt, tượng A Di Đà được tạc năm 1838 (tức năm xây dựng chùa), bằng đất sét thếp vàng không nung, nhưng vẫn còn nguyên vẹn cho tới nay. - Các tượng gỗ: Phật Mẫu Chuẩn Đề, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng, Tiêu Diện Đại sĩ, Thiện Hữu (tiền thân Phật Thích Ca), Ác Hữu (tiền thân Đề Bà Đạt Đa), Ngọc Hoàng Thượng đế, Nam tào, Bắc đẩu. - Tượng Hộ pháp bằng đồng. Các hạng mục khác: Bên trong Đông lang là phòng khách để tiếp khách thập phương. Sau Đông lang là Tổ điện gồm 5 gian, đặt bàn thờ chư vị Tổ sư và các vị trụ trì. Những linh vị và di ảnh đều nằm trong chiếc khánh bằng gỗ sơn son thếp vàng, chạm trổ hoa văn sắc sảo. Phía sau bàn thờ Tổ là phòng của Ban quản tự và tăng xá dành cho tăng sinh nội trú tu học. Bên trái Tổ điện là Tây lang để tiếp khách tăng. Ở đây có tủ trưng bày bộ Đại Tạng kinh, kinh Nhật tụng và các loại kinh sách khác. Sau Tây lang là khu Bảo tháp chứa di cốt của chư vị Trụ trì tiền nhiệm. Từ khi xây dựng cho đến nay, chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu, đáng kể là năm Giáp Dần (1854), Hòa thượng Thích Minh Phước (trụ trì đời thứ nhất) đã cho tái tạo Tổ điện, Đông lang và Tây lang; năm Nhâm Ngọ (1882), Hòa thượng Thích Quảng Đức (trụ trì đời thứ hai) cho đại trùng tu Chánh điện, và tồn tại cho đến nay. Dù đã phục chế lại các phần hư hao xuống cấp nhiều lần, nhưng chùa vẫn bảo tồn được nét cổ. Hiện chùa là nơi đặt trường cơ bản Phật học của tỉnh.
Trong chùa có một số hiện vật có giá trị như:
- Chiếc mõ gỗ hình song ngư có từ năm Mậu Tý (1888), đặc tính là khi thời tiết nắng nhiều thì tiếng kêu chát, trời mát lại kêu ấm hơn. - Chiếc mõ gỗ lớn, nặng khoảng 15 kg, đường kính bề ngang 1,4 m, bề dọc 70 cm do cố Hòa thượng Thích Vĩnh Tràng (trụ trì đời thứ 4) ra tận miền Bắc chiêm bái các Thánh tích rồi thỉnh về. Khi đi cũng như lúc về, Sư đều đi bộ (lúc về đội mõ trên đầu), mỗi bước chân niệm một tiếng "A Di Đà Phật". - Các bản gỗ khắc chữ để in những kinh, luật (gồm kinh Kim Cang, phẩm Phổ Môn trong Diệu pháp liên hoa kinh, kinh Địa Tạng, kinh A Di Đà, Tỳ Ni Nhật Dụng Yếu Lược, Sa Di Luật Giải...) trong thời Hòa thượng Vạn Hiển làm trụ trì (đời thứ 3). Do làm bằng loại gỗ tốt nên các bản gỗ còn nguyên vẹn.
Các đời Trụ trì
Tính đến nay, chùa Phước Hưng đã trải qua 6 đời Trụ trì:
- 1838 – 1882: Đại lão Hòa thượng Thích Minh Phước, hiệu Tư Trung, viên tịch ngày 19 tháng 7 năm Giáp Thân (1884). - 1882 – 1890: Hòa thượng Thích Quảng Đức, pháp húy Như Diệu, viên tịch ngày 13 tháng 5 năm Canh Dần (1890). - 1890 – 1936: Hòa thượng Thích Vạn Hiển, pháp húy Kiểu Ấn, hiệu Tâm Pháp, Viên tịch năm Bính Tý (1936). - 1937 – 1962: Hòa thượng Thích Vĩnh Tràng, pháp húy Hồng Tỵ, viên tịch ngày 19 tháng 2 năm Quý Mão (1963). - 1962 – 1987: Hòa thượng Thích Vĩnh Đạt, pháp húy Hồng Hạnh, viên tịch ngày rằm tháng 9 năm Đinh Mão (1987). - Hiện nay chùa do Hòa thượng Thích Thiện Huệ, Thành viên Hội đồng Chứng minh TW Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Đồng Tháp làm viện chủ. Trụ trì là Đại đức Thích Chơn Trí, Trưởng Ban Trị sự GHPGVN Thành phố Sa Đéc.
== Chú thích ==
Nguồn nội dung. Phần lịch sử, kiến trúc và lễ hội tóm lược từ bài Chùa Phước Hưng trên Wikipedia tiếng Việt, giấy phép CC BY-SA 4.0 — phần trích dẫn này cũng theo cùng giấy phép. Thông tin có thể thay đổi theo thời gian; nếu bạn biết chi tiết chính xác hơn, xin góp ý giúp.