Chùa Kim Chương

Chùa Kim Chương (Kim Chương Tự), còn có tên là Phổ Quang Thiên Sơn Tự, Thiên Trường Tự, Sắc Tứ Phổ Quang Thiên Sơn Tự, là một ngôi "quốc tự", tọa lạc trên phần đất của làng Tân Triêm, thuộc Gia Định xưa. Khi quân Pháp đánh chiếm nơi này, ngôi chùa đã được tăng chúng tháo dỡ đưa về xã Mỹ Thiện (nay là xã Mỹ Đức Tây, tỉnh Đồng Tháp) dựng lại, và đổi tên là Hội Thọ Tự. Theo nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường, nơi ngôi cổ tự tọa lạc, nay ở khoảng chùa Lâm Tế tại địa chỉ số 212A đường Nguyễn Trãi thuộc phường Cầu Ông Lãnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Mục lục
  1. Văn khấn Chùa Kim Chương
  2. Lịch sử
  3. Kiến trúc và quy mô
  4. Tên chùa
  5. Trên nền cũ

Văn khấn Chùa Kim Chương

Chùa Kim Chương là chùa Phật giáo Bắc tông. Khi lễ tại đây, lễ ban Đức Ông trước rồi lên chính điện khấn Tam Bảo; ban Phật chỉ dâng lễ chay.

Lưu ý: Theo tư liệu, chùa gốc ở làng Tân Triêm bị tháo dỡ thời Pháp thuộc, được dựng lại với tên Hội Thọ tự rồi hư hại trong chiến tranh; nên hỏi người địa phương về hiện trạng trước khi đến lễ.

Truyền thống
Phật giáo Bắc tông

Sắm lễ tại Chùa Kim Chương

  • Hương, hoa tươi (sen, huệ, cúc), quả chín
  • Oản, xôi chè, bánh kẹo chay
  • Ban Tam Bảo chỉ dâng lễ chay — không đặt đồ mặn, rượu, vàng mã
  • Ban Đức Ông có thể dâng thêm lễ mặn nếu nhà chùa cho phép
  • Tiền công đức bỏ vào hòm, không rải lên ban thờ hay tay tượng

Thứ tự hành lễ

  1. Ban Đức Ông
  2. Chính điện — ban Tam Bảo
  3. Nhà Tổ (nếu có)

1. Văn khấn ban Tam Bảo tại Chùa Kim Chương

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Con kính lạy Đức Phật A Di Đà. Con kính lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, cùng chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con thành tâm về cửa chùa Kim Chương, tại tỉnh Đồng Tháp, dâng nén tâm hương cùng lễ vật chay tịnh, kính dâng lên Tam Bảo. Cúi xin chư Phật, chư vị Bồ Tát từ bi chứng giám, gia hộ cho tín chủ con cùng toàn gia thân tâm an lạc, tiêu trừ nghiệp chướng, bệnh tật tiêu tan, trí tuệ sáng suốt, biết sống thiện lành, làm điều lợi ích. Nguyện đem công đức này hồi hướng cho cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp cùng khắp pháp giới chúng sinh đều được an vui. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

2. Văn khấn ban Đức Ông tại Chùa Kim Chương

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con về lễ tại chùa Kim Chương, tại tỉnh Đồng Tháp, đến trước điện Đức Ông thành tâm kính lễ, hiến dâng phẩm vật, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh. Cúi xin Đức Ông từ bi chứng giám, phù hộ độ trì cho tín chủ con cùng gia quyến được mạnh khỏe bình an, gia đạo yên ổn, công việc hanh thông, sở cầu như ý. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

Bài khấn soạn theo khuôn văn khấn cổ truyền, điền đúng danh hiệu các vị được thờ tại Chùa Kim Chương theo tư liệu hiện có. Chỗ in đỏ trong ngoặc là phần bạn tự điền. Nếu tại chùa có niêm yết văn khấn riêng, nên đọc theo bản đó.

Đọc thêm: Văn khấn đi lễ chùa — nguyên tắc chung · Văn khấn ban Tam Bảo

Lịch sử

Trong sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có đoạn giới thiệu chùa Kim Chương như sau:

Ở phía Tây Nam trấn hơn 4 dặm, về phía Bắc quan lộ. Ở giữa là Phật điện, trước sau có Đông Tây đường, sơn môn, phương trượng, kinh thất, hương viện, và phạn đường chạm trổ tô sơn, tốt đẹp rộng cao, phía Bắc chùa có suối nước ngọt bốn mùa dưới đất chảy tràn ra ướt dầm cả đường đi. Năm Ất Hợi (1755), đời vua Thế Tông (Nguyễn Phúc Khoát) năm thứ 18 có thầy tăng ở Quy Nhơn là Đạt Bản hòa thượng đến lập chùa ở đây, được vua ban cho tấm biển đề là "Kim Chương Tự". Khi Đạt Bản mất, truyền lại cho đồ đệ là Quang Triệt. Năm Ất Mùi (1775), Hòa nghĩa đạo Lý tướng quân (Lý Tài) lập chúa Mục vương (Nguyễn Phúc Dương) tại đây, lại sắc ban một lần nữa. Quang Triệt mất, Quang Trạm kế, Quang Trạm mất, Quang Tuệ nối. Năm Đinh Dậu, niên hiệu Gia Long thứ 12 (1813), Thần võ quân Phó tướng Trần Nhân Phụng vâng theo di chỉ Cao hoàng hậu ban tiền 10.000 quan để trùng tu chùa và chỉnh lý những kinh tạng, trống chuông cho thêm vẻ trang nghiêm. Hiện nay là một đại bửu sát (ngôi chùa danh thắng) ở Gia Định. Khi chúa Nguyễn Phúc Ánh khôi phục được cơ nghiệp, đến năm thứ ba (1804), chùa Kim Chương tổ chức lễ chúc thọ giới đàn báo đáp ân sâu của Đức Phật. Đây là lễ giới đàn đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Nam Bộ Năm Mậu Ngọ (1858), thực dân Pháp đến uy hiếp Đà Nẵng. Năm sau, Pháp chuyển hướng đánh thành Gia Định. Đến khi đại đồn Chí Hòa thất thủ (1861), chùa Kim Chương đã được hòa thượng Minh Giác cho tháo dỡ đem về xã Mỹ Thiện (nay là xã Thiện Trí, Cái Bè, Tiền Giang), vì đây là hậu phương của cuộc khởi nghĩa do Thiên Hộ Dương (tức Võ Duy Dương) lãnh đạo. Để che mắt Pháp, nhà chùa lấy cớ có nhiều cao tăng trường thọ nên đổi hiệu lại là Hội Thọ tự. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, vì chùa Hội Thọ ở gần lộ Đông Dương, tăng chúng sợ thực dân Pháp sẽ trở lại chiếm chùa làm đồn bót, nên một lần nữa chùa phải dời vào nơi bưng biền, hưởng ứng lệnh kêu gọi tiêu thổ kháng chiến. Trong chiến tranh chùa bị hư hỏng hoàn toàn. Có người hảo tâm đã che cất tạm một am tranh để gìn giữ những tượng thờ và cổ vật.

Kiến trúc và quy mô

Nhờ tăng chúng hết lòng gìn giữ, nên chùa Hội Thọ hiện còn nhiều bài vị và tranh chân dung của các vị Tổ sư tiền bối. Ngoài ra, chùa còn có một bộ tượng gỗ của Thừa Thiên Cao hoàng hậu dâng cúng năm 1813, gồm có các tượng: Ngọc Hoàng Thượng đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, Địa Tạng Bồ Tát, Bồ Đề Đạt Ma, Già Lam, Minh Vương, Phán Quan,...Bộ tượng này được tạo hình với những đường nét sống động, theo nhân dạng Việt Nam. Đặc biệt quý là hai pho tượng cổ: tượng Già Lam hộ trì ngôi tam bảo do nghệ nhân ở Huế làm, và một tượng Phật A Di Đà (cao khoảng 6 tấc, bằng đất sét thô, ép khuôn, bộng ruột, bên ngoài sơn thếp vàng) do nghệ nhân ở địa phương làm. Pho tượng thể hiện hình ảnh Đức Phật đang tọa thiền, thân mình ngồi thẳng tự nhiên, hai mắt hé mở, miệng móm mém cười như một bà lão ở nông thôn...

Tên chùa

Tên chùa được thay đổi nhiều lần: Ban đầu hòa thượng Đạt Bổn từ Quy Nhơn đến lập chùa được chúa Vũ vương Nguyễn Phúc Khoát ban tên là Kim Chương Tự. Đến lúc Nguyễn Phúc Dương chạy vào Nam, Lý Tài rước về chùa Kim Chương tôn lên làm Tân Chính vương vào tháng 11 năm Bính Thân (1776) thì chùa được sắc tứ lần thứ hai là Phổ Quang Thiên Sơn Tự. Năm Đinh Dậu, niên hiệu Gia Long 12 (1813), phó tướng Trần Nhân Phụng tuân theo di chúc của Thừa Thiên Cao Hoàng hậu (Tống Thị Lan), ban 10.000 quan tiền để trùng tu chùa, đúc thêm trống chuông và chỉnh lý những kinh tạng, rồi chùa được đổi thành Thiên Trường Tự. Đến đời Tự Đức, Thiên Trường Tự được nhà vua ban cho tên Sắc Tứ Phổ Quang Thiên Sơn Tự. Ngoài ra, trên bản đồ thành Gia Định do Trần Văn Học vẽ năm 1815, còn ghi là Chùa Kim Chương.

Trên nền cũ

Sau khi chùa Kim Chương được các tăng chúng tháo gỡ, theo Vương Hồng Sển, thì trên nền cũ của chùa, quân Pháp đã cất lên Sở Nuôi ngựa. Và ông Vương còn cho biết "chùa này lại xây trên một nền chùa Thổ (Miên) đã có trước đời Gia Long. Theo Trương Vĩnh Ký, chúa Nguyễn Phúc Thuần bị bắt tại vùng Ba Thắc (thuộc Cà Mau), chúa Nguyễn Phúc Dương bị bắt tại Ba Vát (thuộc Bến Tre, gần Mỏ Cày) và đều bị quân Tây Sơn đưa về hành quyết ở Gia Định (gần Kim Chương Tự), lối cuối năm 1777.

Nguồn nội dung. Phần lịch sử, kiến trúc và lễ hội tóm lược từ bài Chùa Kim Chương trên Wikipedia tiếng Việt, giấy phép CC BY-SA 4.0 — phần trích dẫn này cũng theo cùng giấy phép. Thông tin có thể thay đổi theo thời gian; nếu bạn biết chi tiết chính xác hơn, xin góp ý giúp.