Đình Trung Cần

Đình Trung Cần là Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, nằm ở xóm Trung Cần, xã Thiên Nhẫn, tỉnh Nghệ An.

Mục lục
  1. Văn khấn Đình Trung Cần
  2. Lịch sử
  3. Kiến trúc và quy mô
  4. Tổng Thể
  5. Thờ phụng
Đình Trung Cần
Đình Trung Cần — Nghệ An

Văn khấn Đình Trung Cần

Đình Trung Cần thờ Thành hoàng là Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng, phối thờ Thần Cao Sơn Cao Các và Khổng Tử.

Truyền thống
Thờ Thành hoàng
Thờ chính
Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng
Phối thờ
Thần Cao Sơn Cao Các và Khổng Tử

Sắm lễ tại Đình Trung Cần

  • Hương, hoa, quả, trầu cau, rượu
  • Xôi, gà luộc; lễ làng có thể dâng thủ lợn
  • Tiền công đức bỏ vào hòm
  • Hóa vàng tại nơi quy định của đình

Thứ tự hành lễ

  1. Đại đình / bái đường
  2. Hậu cung — ban Thành hoàng (Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng)
  3. Các ban phối thờ

Văn khấn Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng tại Đình Trung Cần

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy Đức Thành hoàng Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng. Con kính lạy chư vị phối thờ: Thần Cao Sơn Cao Các và Khổng Tử. Con kính lạy chư vị Tôn thần cai quản trong xứ này. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con thành tâm về lễ tại đình Trung Cần, tại xóm Trung Cần, tỉnh Nghệ An, sửa biện hương hoa, lễ vật, trà quả, kính dâng trước án. Cúi xin Đức Thành hoàng cùng chư vị Tôn thần giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ cho dân làng an cư lạc nghiệp, mưa thuận gió hòa, cho tín chủ con cùng toàn gia mạnh khỏe bình an, công việc hanh thông, mọi sự tốt lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

Bài khấn soạn theo khuôn văn khấn cổ truyền, điền đúng danh hiệu các vị được thờ tại Đình Trung Cần theo tư liệu hiện có. Chỗ in đỏ trong ngoặc là phần bạn tự điền. Nếu tại đình có niêm yết văn khấn riêng, nên đọc theo bản đó.

Lịch sử

Đình Trung Cần được xây dựng trên dải đất cao ráo, phong quang. Phía bắc và phía tây là khu dân cư xóm Trung Cần (xưa kia là xóm Đình và Xóm Khoa Trường) phía đông và phía nam là xóm Vũng Chùa (xưa kia là xóm Vũng, xóm chùa Giai (Quỳnh Trai) và xóm Cồn (Ngọc Cồn). Nhìn ra xa, đình hướng nam, bầu trời rộng, cao. Những ngày trời trong người ta có thể nhìn thấy mây núi xanh các vùng Đức Thọ, Can Lộc, Hương Sơn và đèo Ngang tít tắp chân trời.

Đình Trung Cần được xây dựng năm 1781 (Tân Sửu), hoàn thành năm 1782 (Nhâm Dần). Tân Sửu hạ kinh thủy Nhâm Dần xuân hoàn thành. Đình Trung Cần được xây dựng bởi 3 vị tiến sĩ họ Nguyễn Trọng. Đó là Nguyễn Trọng Thường, Nguyễn Trọng Đương, Nguyễn Trọng Đường, cùng với nhân dân trong xã Nam Trung.

Kiến trúc và quy mô

Đình gồm năm gian, ba gian chính, hai gian phụ, chiều dài 30 mét, chiều ngang 16 mét. Sáu vì gôm 24 cột lim, kết cấu kiểu tứ trụ. Mỗi cột cao tầm 8 mét, chu vi 1.5 mét. Tất cả 12 kèo trước, sau và hồi đều được chạm trổ tinh tế. Mỗi góc trên xà đều có một con rồng ổ, Tám con rồng ổ là tám đường gỗ tròn được chạm lộng đầu rồng, cuộn tròn thu hình trong góc mái, đầu thò ra khoảng không, miệng ngậm ngọc, nanh vuốt vẩy vi mềm mại, đường nét kín đáo, uyển chuyển như thực như mơ, đường nét chạm mộc trong đình rất thanh thoát mà phức tạp, vừa nổi vừa chìm. Tất cả được xếp đặt tạo hình tạo dáng tinh tế hài hòa vừa mền như bún vừa cúng như thép. Kỹ thuật mộc đến mức điêu luyện.

Tổng Thể

Phía trước cửa đình, bên cạnh các cồn đất có hình thù "nghiên bút" khu "chùa Kẹ" là lăng mộ Tống Tất Thắng. Đình có tường cao quá đầu người , bao bọc bốn bề sân vườn, vừa là lối đi ở mặt trên, tiện cho mọi người ngồi xem hội hè, đình đám diễn ra trong sân đình. Trước cổng đình là nhà bia ghi sự tích đình và công lao tên tuổi của những người đã góp công, của ruộng đất cho việc xây dựng đình, bia ghi tên " Nghĩa điền bia ký". Vào cửa sân đình, hai cột nanh cao vút, trên đầu là hai con nghê vừa hướng vào đinh vừa đối diện nhau, hai con nghê bằng đất nung với văn hoa chi tiết mềm mại, tinh tế ( đã bị bão lũ phá hủy, nay thay bằng nghê xi măng cốt thép). Sân đình bằng phẳng, cỏ xanh mượt mà, hàng nghìn người ngồi không hết chỗ. Ngôi đình oai nghiêm, mái cong, trên nóc có mô hình " Lưỡng Long triều nguyệt". cũng như những con rồng đúc đất nung, nhưng con lân đa đang chạy dài trên các đường lưng chừng, các góc mái đến tận mái, nối tiếp là những con chim phượng cất cánh chức bay lên trời. Long - Ly - Quy - Phượng là những mô hình tượng trưng bốn con vạt linh thiêng, tất cả bằng đất nung đừng nét chi li, tinh tế, mang thần sắc sống động, linh hoạt tôn nghiêm cổ kính. Các đường Hạ Thượng đều được chạm nổi "mây, mưa, lá,đề, cành, tùng,cúc, trúc, mai". Trên nách bốn bè có 24 bức tranh khắc gỗ nổi dây là những kỳ công của điêu khắc cổ. Những mô hình như " Vua Thuấn đi cày", "vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn ở Hoàng Cung", cảnh "vượt thuyền trong giông bão", những cảnh sinh hoạt trong dân gian rất sinh động như " Tiến sĩ về lang", " người đánh đàn", " trẻ chăn trâu thổi sao", "Mẹ cho con bú", "trai gái giã gạo", "người đánh cờ", " người đọc sách ngâm thơ", "phi ngựa chiến qua làng" ... Tất cả 24 bức tranh gợi lên một quang cảnh làng xóm xa xưa, một làng có văn hóa, văn minh, vừa cổ kính, vừa dân dã, gần gũi, thân thiết. Hai mươi tư bức tranh được bố cục hài hoà, đường nét điêu luyện, ý cảnh, thần sắc thực và ảo nói lên tài nghệ, tâm hồn nghệ nhân làng xã thuở xa xưa. Bức hoành phi chạm nổi khác ghi năm chữ Hán, kiểu chân phương: "Thánh cung vạn vạn tuế" (Cung điện nhà vua muôn muôn năm). Ở hai đường thượng khác ghi niên đại: "Tân Sửu hạ kinh thủy Nhâm Dần xuân hoàn thành" (1781 1782). Một hương án lớn bày giữa đình, có hai con hạc đứng trên lưng hai con rùa lớn, chầu hai bên hương án. Hai đầu có hai bục bệ lim hình sân khấu đối nhau. Nền đình lát gạch cỡ gần một mét vuông, loại gạch nung chín đỏ, các đế cột là những tảng đá thanh xanh bóng. Nối tiếp sau đình là một đình nhỏ hơn, có biển khắc chạm lộng ba chữ Hán "Đại thành miếu" (miếu thờ Khổng Tử). "Đại thành miếu" do Tổng đốc Lê Nguyên Trung khi đã về hưu cùng dân làng dựng thêm. Khi Tự Đức biết đình Trung Cần rất nguy nga tráng lệ, đẹp nhất vùng, có ý định bắt thợ Trung Cần dỡ đình về xây cung điện Thái Hoà ở kinh đô Huế thì Lê Nguyên Trung tâu lên: Trung Cần không có đình, chỉ có "Đại thành miếu". Tự Đức vốn sùng bái Khổng Tử nên không dỡ đình Trung Cần nữa. Thợ Trung Cần đều thoát nạn, đình Trung Cần giữ nguyên. Phần trùng tu có thêm: "Đại thành miếu" từ đó. Đình Trung Cần, một công trình văn hoá nghệ thuật bề thế, điêu luyện, một tác phẩm kiến trúc tuyệt xảo nhất vùng, cùng cụm đình Hoành Sơn, Dương Liễu đã có tiếng vang trong xứ Nghệ. "Khái ngàn Hống (Hồng Lĩnh hổ nhiều, lớn). Trống Trung Cần" (trống to, đường kính mặt dài gần hai mét, dùng cột gỗ và dây giật thay dùi trống). Ngày hội hè, trống đình vang lên giục giã, rộn ràng trong vùng. Những ngày bắt phu, bắt lính, thu thuế, cứu hoả, ch

Thờ phụng

Đình Trung Cần thờ Thành hoàng của làng Trung Cần là Nghĩa Quận công Tống Tất Thắng, một vị văn thần võ tướng mà Nguyễn Thiếp rất ngưỡng mộ và ông từng ca ngợi "...Trung nghĩa Tống Tất Thắng, Anh hùng Mai Thúc Loan...". Trong Đình có 5 tấm bài vị bằng đá màu đen, khắc chữ Hán cùng phiên âm chữ Việt mạ vàng được bày trang trọng trên gian chính của hậu cung. Bài vị đặt trong Long ngai ở chính giữa có các dòng chữ như sau: "Lịch triều sắc phong chư tôn mỹ tự tối linh Tôn thần Lí (理, đúng ra phải là 李) triều Uy Minh, Dũng Liệt, Hiển Trung, Tá Thánh, Phụ (负, đúng ra phải là Phu Hựu 俘侑) Đại vương Tôn Thần". Vị thần được nói đến trong bài vị này là Uy Minh Vương Lý Nhật Quang (李日光), huý là Lý Hoảng (李晃), con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Phía bên phải sát Long ngai là bài vị thờ thần Cao Sơn Cao Các có các dòng chữ như sau: "Cao Sơn Cao Các lịch triều sắc phong chư tôn mỹ tự phong Trác Vị (位, đúng ra phải là Vĩ 伟) Thượng đẳng tối linh Phật Xá tôn thần". Thần Cao Sơn hay Cao Sơn đại vương là tên gọi của nhiều vị thần khác nhau trong truyền thuyết Việt Nam.

Nguồn nội dung. Phần lịch sử, kiến trúc và lễ hội tóm lược từ bài Đình Trung Cần trên Wikipedia tiếng Việt, giấy phép CC BY-SA 4.0 — phần trích dẫn này cũng theo cùng giấy phép. Thông tin có thể thay đổi theo thời gian; nếu bạn biết chi tiết chính xác hơn, xin góp ý giúp.