Đình An Hội
Đình An Hội là một đình ở phường 8, Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Đình nằm trong khuôn viên Miếu Võ Tiên Sư và Miếu Bà Chúa Ngọc. Ngày 23 tháng 11 năm 2020, đình được Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo Quyết định số 4292/QĐ-UBND.
Mục lục
Văn khấn Đình An Hội
Đình An Hội là đình làng thờ Thành hoàng. Tư liệu hiện có chưa ghi danh hiệu cụ thể của vị Thành hoàng, nên bài khấn dùng lối gọi chung "Đức Thành hoàng bản cảnh" — ngoài ra đình còn thờ Bà Chúa Ngọc và Quan Thánh Đế Quân. Như phần lớn đình Nam Bộ, bài khấn có thêm lời kính lạy chư vị Tiền hiền, Hậu hiền — những người có công khai khẩn lập làng.
- Truyền thống
- Thờ Thành hoàng
- Thờ
- Bà Chúa Ngọc và Quan Thánh Đế Quân
Sắm lễ tại Đình An Hội
- Nhang, đèn, hoa, trái cây
- Trà, rượu, xôi, bánh
- Mâm lễ mặn (heo quay, gà luộc) vào dịp lễ Kỳ Yên của đình
- Tiền công đức bỏ vào thùng
Thứ tự hành lễ
- Võ ca / tiền điện
- Chánh điện — ban Thần Thành hoàng
- Ban Tiền hiền, Hậu hiền
Văn khấn Thành hoàng tại Đình An Hội
Bài khấn soạn theo khuôn văn khấn cổ truyền, điền đúng danh hiệu các vị được thờ tại Đình An Hội theo tư liệu hiện có. Chỗ in đỏ trong ngoặc là phần bạn tự điền. Nếu tại đình có niêm yết văn khấn riêng, nên đọc theo bản đó.
Lịch sử
Năm thành lập đình chưa xác định. Đình còn lưu bản Hàm Ân bằng Chữ Hán đề tháng 2 năm 1822. Đình khởi dựng ở khu vực nay là Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất. Khoảng năm 1950, đình được dời về địa điểm hiện nay trong khuôn viên Miếu Võ Tiên Sư và Miếu Bà Chúa Ngọc.
Kiến trúc và quy mô
Mặt bằng tổng thể gồm cổng, sân đình, bình phong Thần Hổ, đài tưởng niệm liệt sĩ, miếu Ngũ hành; ba nếp nhà gồm đình, miếu Bà Chúa Ngọc và miếu Quan Thánh Đế Quân. Kết cấu nhà đình theo kiểu "tứ trụ" thường gặp trong hệ thống đình Nam Bộ, với tường gạch, kèo bê tông, rui mè gỗ và mái ngói. Trong loại hình đình làng, hệ cột lớn ở lòng đình là bộ phận chịu lực chính và tổ chức không gian tế tự. Không gian thờ tự gồm chính điện, hậu sở và nhà túc. Khám thờ Thần tại chính điện có đại tự "Thần" bằng chữ Hán, kèm lạc khoản "Mậu Tý niên kiết nhựt tạo" (năm 1948). Miếu Bà Chúa Ngọc và miếu Quan Thánh Đế Quân có kiến trúc và bài trí tương đồng; một số tượng thờ (Quan Thánh Đế Quân, Châu Xương, Quan Bình, Xích Thố) được làm bằng gỗ. Đình còn lưu giữ hoành phi, liễn đối, chạm khắc trang trí và bản Hàm Ân bằng chữ Hán. Đình An Hội được xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo Quyết định số 4292/QĐ-UBND ngày 23 tháng 11 năm 2020.
Lễ hội và sinh hoạt tín ngưỡng
Hệ thống thờ tự tập trung tại chính điện của đình, phối thờ tại miếu Bà Chúa Ngọc và miếu Quan Thánh Đế Quân; trong khuôn viên có bình phong Thần Hổ và miếu Ngũ hành. Việc hương khói và trông coi cơ sở thờ tự do Ban Quý tế đảm nhiệm; danh sách quản lý di tích ghi Ban Trị sự là đơn vị liên quan đến đình. Lễ Kỳ yên được tổ chức hằng năm, gắn với nghi thức dâng hương và lễ vật tại đình. Trong thực hành lễ Kỳ yên ở một số đình làng Nam Bộ, phần lễ thường gồm các nghi thức như túc yết, chánh tế, tế hậu sở; một số kỳ đại lễ có thêm xây chầu, đại bội và hát bội.
Xếp hạng di tích
Tháng 12 năm 2019, trong danh sách 10 công trình được đề nghị xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tại Thành phố Hồ Chí Minh có đình An Hội. Ngày 23 tháng 11 năm 2020, Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức trao bằng xếp hạng cho một số di tích cấp thành phố, trong đó có đình An Hội. Danh sách tổng hợp của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh (tính đến hết tháng 10 năm 2022) ghi đình An Hội là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo Quyết định số 4292/QĐ-UBND ngày 23 tháng 11 năm 2020.
== Tham khảo ==
Nguồn nội dung. Phần lịch sử, kiến trúc và lễ hội tóm lược từ bài Đình An Hội trên Wikipedia tiếng Việt, giấy phép CC BY-SA 4.0 — phần trích dẫn này cũng theo cùng giấy phép. Thông tin có thể thay đổi theo thời gian; nếu bạn biết chi tiết chính xác hơn, xin góp ý giúp.