Chùa An Ninh

Chùa An Ninh (安寧寺), (tên chữ: Vĩnh Khánh tự 永慶寺), dân gian gọi là Chùa Trăm Gian xứ Đông, ở Vạn Lộng trang sau đổi thành làng An Ninh rồi An Đông thuộc xã An Phú, thành phố Hải Phòng. Chùa có từ thời Trần, trùng tu vào thời Lê và Nguyễn, hiện còn 85 gian, 37 pho tượng gỗ, hàng trăm bản in kinh Phật và nhiều cổ vật có giá trị. Đây là một ngôi chùa lớn, kiến trúc còn khá hoàn chỉnh. Hàng năm, vào ngày 13 tháng 9, chùa tổ chức lễ hội. Chùa An Ninh là một di tích đã được xếp hạng năm 1990.

Mục lục
  1. Văn khấn Chùa An Ninh
  2. Lịch sử
  3. Điểm đặc biệt của ngôi chùa này
  4. Tăng ni
Chùa An Ninh
Chùa An Ninh — Hải Phòng

Văn khấn Chùa An Ninh

Chùa An Ninh là chùa Phật giáo Bắc tông. Khi lễ tại đây, nếu chùa có ban Đức Ông thì lễ ở đó trước, rồi lên chính điện khấn Tam Bảo, sau đó mới lễ ban Mẫu; ban Phật chỉ dâng lễ chay. Ngày lễ chính: 13 tháng 9.

Truyền thống
Phật giáo Bắc tông
Ngày lễ
13 tháng 9

Sắm lễ tại Chùa An Ninh

  • Hương, hoa tươi (sen, huệ, cúc), quả chín
  • Oản, xôi chè, bánh kẹo chay
  • Ban Tam Bảo chỉ dâng lễ chay — không đặt đồ mặn, rượu, vàng mã
  • Ban Đức Ông có thể dâng thêm lễ mặn nếu nhà chùa cho phép
  • Ban Mẫu dâng thêm trầu cau, oản, hoa quả
  • Tiền công đức bỏ vào hòm, không rải lên ban thờ hay tay tượng

Thứ tự lễ tại Chùa An Ninh

  1. Tiền đường
  2. Tam bảo
  3. Nhà Tứ Ân
  4. Nhà tổ

1. Văn khấn ban Tam Bảo tại Chùa An Ninh

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Con kính lạy Đức Phật A Di Đà. Con kính lạy Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, cùng chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con thành tâm về cửa chùa An Ninh, tại làng An Ninh, thành phố Hải Phòng, dâng nén tâm hương cùng lễ vật chay tịnh, kính dâng lên Tam Bảo. Cúi xin chư Phật, chư vị Bồ Tát từ bi chứng giám, gia hộ cho tín chủ con cùng toàn gia thân tâm an lạc, tiêu trừ nghiệp chướng, bệnh tật tiêu tan, trí tuệ sáng suốt, biết sống thiện lành, làm điều lợi ích. Nguyện đem công đức này hồi hướng cho cửu huyền thất tổ, cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp cùng khắp pháp giới chúng sinh đều được an vui. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

2. Văn khấn ban Đức Ông tại Chùa An Ninh

Dùng khi chùa có ban Đức Ông — phần lớn chùa miền Bắc đều có ban này ở tiền đường.

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Đức Ông Tu Đạt Tôn giả, Thập Bát Long Thần, Già Lam Chân Tể. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con về lễ tại chùa An Ninh, tại làng An Ninh, thành phố Hải Phòng, đến trước điện Đức Ông thành tâm kính lễ, hiến dâng phẩm vật, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh. Cúi xin Đức Ông từ bi chứng giám, phù hộ độ trì cho tín chủ con cùng gia quyến được mạnh khỏe bình an, gia đạo yên ổn, công việc hanh thông, sở cầu như ý. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

3. Văn khấn ban Mẫu tại Chùa An Ninh

Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con lạy đức Vua Cha Ngọc Hoàng Thượng đế. Con lạy Tam Tòa Thánh Mẫu: Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ. Con lạy chư vị Thánh Mẫu được phụng thờ tại chùa An Ninh. Tín chủ (chúng) con là: Họ và tên Ngụ tại: Địa chỉ Hôm nay là ngày ..... tháng ..... năm ..... (âm lịch). Tín chủ con nhất tâm về cửa Mẫu tại chùa An Ninh, tại làng An Ninh, thành phố Hải Phòng, thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật, kính dâng trước án, cúi đầu bái vọng. Cúi xin Thánh Mẫu từ bi chứng giám, thương xót tín chủ, giáng phúc lưu ân. Cúi xin Mẫu ban cho gia đình chúng con sức khỏe dồi dào, tâm an trí sáng, gia đạo hòa thuận, con cháu hiếu thảo, làm ăn thuận lợi, gặp dữ hóa lành. Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin được phù hộ độ trì. Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! Nam mô A Di Đà Phật! (3 lạy)

Bài khấn soạn theo khuôn văn khấn cổ truyền, điền đúng danh hiệu các vị được thờ tại Chùa An Ninh theo tư liệu hiện có. Chỗ in đỏ trong ngoặc là phần bạn tự điền. Nếu tại chùa có niêm yết văn khấn riêng, nên đọc theo bản đó.

Đọc thêm: Văn khấn đi lễ chùa — nguyên tắc chung · Văn khấn ban Tam Bảo

Lịch sử

Tương truyền chùa có từ thời Lý (khoảng thế kỷ XI). Đến thời Trần, tướng quân Nguyễn Huy Tĩnh đóng quân tại chùa để chặn quân Nguyên từ hướng sông Bạch Đằng đánh vào Thăng Long. Đến triều nhà Lê, ngôi chùa được xây dựng với quy mô lớn. Thời điểm đó có người trong làng họ Nguyễn, Phật hiệu là Diệu Quang tu học theo dòng Trúc Lâm trụ trì tại chùa. Hằng năm cứ đến tiết lập hạ là ông mở lớp giảng kinh Phật nên tăng ni theo học rất đông. Đến thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ngôi chùa là cơ sở cách mạng, sau này một phần chùa trở thành trụ sở UBND xã. Khi UBND xã xây trụ sở mới, ngôi chùa trở lại thành điểm sinh hoạt văn hóa của nhân dân trong vùng. Cụ Nguyễn Thị Xạ, 83 tuổi, ở thôn An Đoài, xã An Bình cho biết: "Ngôi chùa đã gắn bó với người dân quê tôi từ bao đời nay, chứng kiến những thăng trầm lịch sử. Với mỗi người, ngôi chùa đều thân thuộc như cây đa, bến nước, trở thành điểm tựa tâm linh của chúng tôi". Được xây dựng với quy mô lớn vào thế kỷ XVII và được trùng tu nhiều lần vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nên kiến trúc ngôi chùa mang dấu ấn của thời đại này. Các công trình chính của chùa nằm trong một quần thể kiến trúc gần như khép kín. Từ phía đông, mở đầu là gác chuông với 5 gian bít đốc, 3 gian giữa chồng diêm, mái cong. Gác chuông treo quả chuông được đúc năm Thành Thái thứ 2 (1890) cao 125 cm. Cách gác chuông 2 m về phía sau là tiền đường 7 gian dài 16 m, rộng 8 m, nối liền với tiền đường là 3 gian tam bảo dài 11 m, rộng 8 m tạo thành hình chữ đinh. Ba mặt của tam bảo là một sân hẹp. Bên trái tam bảo là nhà mẫu. Bên trái nhà mẫu là hai nhà khách nối liền nhau, nhà ngoài 3 gian, nhà trong 5 gian. Phía sau tam bảo là nhà Tứ Ân gồm 7 gian, rồi đến nhà tổ. Sau nhà tổ có một khoảng sân rộng 4 m, tiếp đó là nhà cung gồm 9 gian. Nối nhà khách với nhà cung là một hành lang 8 gian 2 chái. Phía sau chùa là một vườn tháp gồm 10 ngôi, trong đó có 9 ngôi được xây dựng vào thời Nguyễn và 1 ngôi được xây dựng năm 2003. Quay vào một sân rộng trên 1.000 m2 là nhà tháp, nhà tăng, am trong, am ngoài và nhiều công trình phụ thuộc khác. Những công trình này một phần bị phá hủy, số còn lại đã biến dạng.

Điểm đặc biệt của ngôi chùa này

Những pho sách quý Đến nay tại chùa Trăm Gian còn lưu giữ được hàng trăm cổ vật có giá trị như các pho tượng Phật có niên đại thời Lê và thời Nguyễn, trong đó có tượng Trúc Lâm tam tổ, nhiều đại tự, câu đối, bát hương cổ, bia đá... Có 5 trong số 7 mộc bản kinh Phật tại chùa Trăm Gian còn giữ được trọn vẹn Ngoài những cổ vật quý hiếm, chùa Trăm Gian còn nổi tiếng với những mộc bản kinh Phật phục vụ in ấn. Ngôi chùa còn lưu giữ được hơn 700 mộc bản kinh Phật thuộc 7 đầu sách kinh. Trong 7 đầu sách này có 2 đầu sách là Di Đà sớ sao (kinh giảng về cõi Tây Phương cực lạc) và Nhân vương hộ quốc (lời Phật dạy cho các bậc quân vương, hoàng thân quốc thích về cách cai quản đất nước) đã thất lạc nhiều bản. Còn 5 đầu sách giữ được trọn vẹn là Giới đàm tăng (dành cho các nhà sư lên chức thụ giới), Giới đàm ni (dành cho các ni lên chức thụ giới), Dược sư đề cương (sách thuốc), Nhật tụng (khóa lễ hằng ngày). Đặc biệt là bộ Khóa Hư Lục - pho sách Phật giáo của Việt Nam do Trần Thái Tông (1218-1277) biên soạn. Cách đây khoảng 5-6 năm, đại đức Thích Tục Phương, trụ trì chùa Trăm Gian đã cho khôi phục một số mộc bản kinh Phật còn lưu giữ tại chùa. Số mộc bản kinh Phật này được nhà sư Viên Giác cho khắc từ thời vua Minh Mạng (1791-1841) đến thời vua Tự Đức (1829-1883) để giảng đạo. Chữ được khắc trên các mộc bản thuộc sách Nhật tụng một nửa là chữ Hán, một nửa là chữ Nôm, còn tất cả chữ khắc trên các mộc bản khác là chữ Hán. Các mộc bản được làm bằng gỗ, ở trên hằn lên màu đen của mực. Thời điểm đó nhà chùa có 12 mẫu ruộng, 2 con trâu, thu nhập từ đó được chia làm 3phần để khắc bản in kinh, duy trì cuộc sống sư sãi và lo việc hương nhang. Năm 1990, ngôi chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Năm 2019 được UBND tỉnh công nhận là điểm du lịch.

Tăng ni

Thánh Tổ Ni Phạm Thị Toàn (Toàn Nương), xuất gia năm 1101, viên tịch năm 1103, là đệ tử của Thiền sư Từ Đạo Hạnh dòng Tỳ Li Đa Lưu Chi. Nhà Trần gia phong " Trinh Khiết Đoan Trực Trai Trang Hoàng Quý Phi Tối Linh Thượng Đẳng Công Chúa " Sư tổ Diệu Quang họ Nguyễn đời Trần, người làng, học đạo ở phái Trúc lâm, vua Lê Cảnh Hưng phong " Hòa Thượng Đại Nhân, Tăng Lục Thiền gia". Sư tổ Viên Giác., họ Nguyễn ở bản xã, quy tịch ngày 14/9 âm lịch. Sư tổ Viên Tịch, vốn tu ở chùa Bổ Đà, sau làm môn đồ tổ Viên Giác, quy tịch ngày 24/6. Sư Cụ tổ trưởng. Sư cụ phó trưởng Sư Tổ Giám tháp hiệu Viên Dong. Sư tổ Đanh Xá Sư tổ Ngãi

Nguồn nội dung. Phần lịch sử, kiến trúc và lễ hội tóm lược từ bài Chùa An Ninh trên Wikipedia tiếng Việt, giấy phép CC BY-SA 4.0 — phần trích dẫn này cũng theo cùng giấy phép. Thông tin có thể thay đổi theo thời gian; nếu bạn biết chi tiết chính xác hơn, xin góp ý giúp.